Thursday, 12/12/2019 - 03:18|
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG GIÁO DUC HUYỆN QUẾ PHONG
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Chuyện "4 cùng" ở vùng cao Tri Lễ - Quế Phong - Nghệ An

YẾN TRANG (Ghi) Van ba vtv "… Ở nơi ấy, nơi sơn cùng thuỷ tận Miền giáp biên, nơi gặp gỡ đất trời Nơi không điện, không đường, Nhưng vẫn có trường, có lớp Có những người thầy tận...

                                                YẾN TRANG (Ghi)  Van ba vtv  

"… Ở nơi ấy, nơi sơn cùng thuỷ tận
Miền giáp biên, nơi gặp gỡ đất trời
Nơi không điện, không đường,
Nhưng vẫn có trường, có lớp
Có những người thầy tận tuỵ với vùng cao
Thật đáng yêu, đáng trọng biết bao
44 người thầy ở miền cao Tri Lễ
Dẫu Dốc đỏ kinh hoàng hay mưa rừng, chớp bể
Đỉnh Phà Cà Tun luôn chìm khuất trong sương
Những khó khăn cuộc sống đời thường
Không ngăn được bước chân thầy đến lớp..."...
Hơn 20 năm làm truyền hình về giáo dục, tiếp xúc với hàng ngàn giáo viên, đã đến hàng trăm ngôi trường, nhưng chuyến đi ghi hình làm phóng sự cho chương trình Thay lời Tri ân 2016 ở vùng cao Tri Lễ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đem đến cho tôi nhiều dấu ấn thật khó phai. Câu chuyện của tôi ở đây không chỉ là hành trình cõng chữ lên non đầy gian nan của các giáo viên vùng cao mà còn giúp khán giả hiểu hơn công việc làm truyền hình đầy vất vả của các phóng viên VTV chúng tôi.
... Trường tiểu học Tri Lễ có lẽ là ngôi trường độc đáo và có nhiều cái không nhất mà tôi từng biết: Không điện, không sóng điện thoại, không nước sạch, không trạm y tế, không chợ, không phòng học kiên cố, không nhà công vụ kiên cố cho giáo viên, không công trình phụ cho cả giáo viên và học sinh… Và đặc biệt, ở ngôi trường này, 44 giáo viên ở tất cả 6 điểm trường, nằm rải rác trên dãy Phà Cà Tún đều là nam giới. 
Bên cạnh nhiều cái “không”, có lẽ lí do khiến cho không một giáo viên nữ nào dám về Tri Lễ kể từ ngày thành lập trường năm 1981 đến nay, là bởi con đường đến trường vô cùng khó khăn, nguy hiểm.Từ ngoài thị tứ Châu Thôn vào điểm trường chính ở Mường Lống dài gần 30km, nhưng chỉ có 1/3 là đường nhựa, còn lại là đường núi khó đi và hiểm trở. Đường không ra đường mà chỉ là những lối mòn cheo leo vắt qua sườn núi, mất cả tiếng đồng hồ chạy xe máy, còn những ngày mưa thì chỉ có thể đi bộ hàng nửa ngày mới vào được đến trường.
Nhưng dốc Đỏ mới thực sự là nỗi kinh hoàng của những ai muốn vào Tri Lễ. Con dốc chỉ dài hơn nửa cây số, những ngày nắng, bụi tung mù mịt với những đường sống trâu. Trời chớm mưa, cả con dốc biến thành đống bùn nhão nhoét, bánh xe dính chặt bùn lầy,muốn vượt qua thường phải đi thành từng nhóm ít nhất bón người để có thể hỗ trợ khênh từng xe vượt dốc. Khi nghe tin đoàn làm phim vào ghi hình, các thầy giáo đích thân ra tận ngoài thị tứ Châu Thôn để đón và chở vào tận nơi, bởi vì không một người lái xe ôm nào đủ can đảm nhận lời, dẫu chúng tôi đã trả giá tới 500.000 đồng cho đoạn đường gần 30km.
Tri Lễ có 6 điểm trường nàm rải rác khắp dãy Phà Cà Tún cao ngút trong mây. Từ điểm trường chính đến các điểm lẻ, điểm xa nhất cách gần 30km, điểm gần nhất cũng cả chục km đường núi chênh vênh, hiểm trở. Dường như ở đây chỉ có bước chân của những người Mông và bánh xe của các thầy giáo cắm bản. Mà có lẽ, dấu xe của các thầy đến lớp còn nhiều hơn bước chân của những người Mông chuyên leo núi.
Sau hơn hơn tiếng đồng hồ thấp thỏm, đặt hết niềm tin vào tay lái các thầy giáo vốn quen đường, thuộc lối, đặt chân xuống điểm trường chính ở Mường Lống, đoàn làm phim và đại diện Công đoàn ngành giáo dục mới dám thở phào nhẹ nhõm, nhưng lại... không khỏi lo sợ nghĩ tới lúc quay trở ra. 
Có lẽ điều lo lắng nhất của nhóm làm phim chúng tôi trong chuyến ghi hình này là không có điện để sạc pin cho máy quay phim. Hệ thống điện bằng năng lượng mặt trời mà huyện Quế Phong và Phòng giáo dục vừa hỗ trợ hồi đầu năm cho điểm trường chính, không đủ điện áp để nạp điện. Thuê được máy nổ thì chạy phập phù, ánh sáng chập chờn như ma trơi. Chúng tôi không dám cắm sạc vì sợ cháy ắc quy và bộ sạc. Chẳng lẽ thu xếp cứ sáng quay cật lực, chiều lại nhờ thầy giáo vượt đường ra ngoài Châu Thôn sạc pin, rồi sáng sớm sau lại quay về làm tiếp? Nhưng như vậy vừa nguy hiểm, vừa không đảm bảo tiến độ ghi hình. Cái khó ló cái khôn. Tôi liền nhờ thầy Nguyễn Trọng Quyền, Phó Hiệu trưởng, cử người đi xe máy quay ngược ra Châu Thôn thuê một bộ kích điện. Sau đó, tôi loay hoay kết nối hai bình acquy 12V vào với nhau, và nối với bộ kích điện, để chuyển từ 24V sang 220V. Vậy là có nguồn điện đủ điện áp để sạc ắc quy máy quay trong những ngày “bốn cùng” với các thầy giáo ở Tri Lễ: cùng ăn, cùng ngủ, cùng trải nghiệm các hoạt động dạy học và cùng sinh hoạt.
Về ăn, chúng tôi ăn cùng với các thầy, có gì ăn nấy. Nhưng phải nói thật, tôi sợ nhất món canh măng rừng tự hái nấu với vài con cá suối các loại, dăm con tép, lẫn với cào cào, châu chấu… Tóm lại là bất cứ con gì các thầy kiếm được.Món ăn ấy vừa tanh, vừa nồng, vừa khó nuốt. Ấy vậy mà các thầy vẫn vừa ăn vưà truyện trò vui vẻ. 
Về ngủ, lúc đầu trường dự kiến nhường 1 phòng trong “khu nhà công vụ” được làm bằng gỗ nhưng đã xuống cấp nghiêm trọng cho chúng tôi, còn các thầy sẽ ngủ chung. Nhưng trước khi đi, tôi đã dự kiến trước nên mang theo lều cắm trại. Quay phim Quốc Phong mang theo đèn ắc quy mini. Nhờ vậy, chúng tôi không chỉ tự lo được chỗ ngủ cho mình mà còn có cả ánh sáng để đọc tài liệu trước khi ngủ.
Trong 5 ngày 4 đêm ghi hình ở Tri Lễ, tôi vô cùng cảm phục mà còn kính trọng trước cái tâm trong sáng, lòng yêu nghề, quý trẻ, hết lòng vì sự nghiệp cõng chữ lên non của các thầy giáo nơi đây. Trường không có giáo viên nữ, nên các thầy vừa là người dạy kiến thức, vừa đảm trách luôn cả vai trò "cô giáo hiền như mẹ". Từ việc cắt móng tay định kì, chải đầu, buộc tóc, đến việc hướng dẫn các em tự chăm sóc bản thân, giữ gìn vệ sinh thân thể. Lúc đầu còn ngượng nghịu, đôi khi còn ngại ngùng, xấu hổ, nhưng làm mãi thành quen, bây giờ, những công việc ấy đã trở thành một hoạt động rất bình thường.
Cũng trong những ngày ở Tri Lễ, tôi được chứng kiến việc một em học sinh ngất xỉu tại lớp.Vì không có trạm y tế, các thầy chỉ còn biết bàn nhau bồng em vượt núi về nhà, cùng gia đình dùng bài thuốc gia truyền trị bệnh. Lúc ấy, mới vào đầu giờ học chiều, máy quay phim chính vẫn đang còn trong thùng máy, chưa lấy ra khỏi thùng, tôi vội lấy máy handycam cá nhân vội vàng bấm nút ghi hình. Khi zoom cận vào khuôn mặt học trò tái dại, đồng tử co lại, trắng dã, người mềm nhũn khiến tôi cũng bủn rủn chân tay. Rất nhanh, quay phim Nông Quốc Phong kịp giữ máy thay cho tôi và bám theo thầy Thắng đang bế em học sinh về nhà chữa trị. Rất may, sau đó em bé đã được cứu tỉnh lại và hôm sau lại đi học bình thường. Đây thực sự là những hình ảnh vô cùng đắt giá và chân thực nhất về những nỗi gian truân, vất vả, cũng như những hi sinh thầm lặng của những thầy giáo nơi đây.
Ở ngôi trường nhiều “không” này, ấn tượng nhất với tôi không phải cảnh các thầy vì không có chợ để mua thức ăn, hàng ngày phải đi hàng nửa tiếng đồng hồ để xuống suối bắt cá, lên rừng hái măng một cách rất chuyên nghiệp, mong có thêm cái ăn, cái gắp cho bữa cơm đạm bạc, mà chính là cảnh các thầy tay khăn mặt, tay bàn chải đánh răng bì bõm lội xuống suối đánh răng rửa mặt mỗi sớm mai thức dậy. Con suối chỉ sâu vừa ngập qua mắt cá chân người lớn, chảy qua trường là nguồn nước sạch duy nhất để các thầy vừa tắm rửa, giặt giũ, rửa xe, rửa bát, vừa nấu cơm, đun nước uống.
Nỗi ám ảnh, xót xa nhất của tôi là đã chứng kiến và ghi hình trọn vẹn cuộc nói chuyện điện thoại của thầy Phó Hiệu trưởng Nguyễn Trọng Quyền gọi về nhà: “Cha à, ở nhà thế nào?... Con lo lắm, nhà con sắp đến ngày sinh rồi… Cha bảo cháu học giúp con nhé. Cuối tuần nếu về được con sẽ kiểm tra”… Ở Tri Lễ không có sóng điện thoại, mỗi khi cần liên lạc, các thầy phải đi xe máy hàng nửa tiếng đồng hồ để đến một điểm lưng chừng núi. Tại đây, trong khoảng nửa m2 thỉnh thoảng mới có sóng của vinaphone, các thầy thường tập trung để 2-3 máy trên một cành cây làm giá đỡ kiểu như cộng hưởng để đón sóng. Khi có sóng thì nói vội, nói vàng được vài câu. Thầy Quyền tâm sự: "Không có điện thoại, mỗi khi Phòng Giáo dục có công tác gì cần triển khai gấp hoặc gia đình có vấn đề gì cần kíp, phải thuê xe ôm vào tận trường thông báo. Nếu là công việc chung, các thầy cũng lại phải đi xe từ điểm trường chính đến triển khai tại các điểm lẻ. Vừa tốn kém thời gian, vừa không đảm bảo được tiến độ".
Có một điều đáng mừng là trước khi đi ghi hình phóng sự, qua trang facebook cá nhân của tôi, biết được những khó khăn, vất vả và thiếu thốn ở ở trường Tiểu học Tri Lễ 4, nhiều bạn bè đã ngỏ ý muốn giúp đỡ. Trong chuyến đi ấy, 430 chiếc chăn ấm, 15 áo rét, 1 tủ sách kĩ năng sống cùng nhiều bánh kẹo đã đến được tận tay cả thầy và trò của nhà trường. Không ít những người tham gia đoàn thiện nguyện cũng là giáo viên ở Hà Nội. Sau khi được tận mắt chứng kiến cuộc sống của cả thầy và trò ở Tri Lễ 4, đã vô cùng xúc động và cảm phục các thầy…
Còn nhiều câu chuyện tôi được nghe kể về những thầy giáo cắm bản ở nơi đây. Những câu chuyện ấy đã được tái hiện trong một phim tài liệu phát sóng trên VTV2 dịp cuối năm 2016. Và có một điều chắc chắn, dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, hiểm nguy rình rập, giữa chốn rừng thiêng nước độc, 44 thầy giáo ở Tri Lễ vẫn ngày tiếp ngày, đêm nối đêm âm thầm gieo chữ. Trong số họ, có thầy hơn 40 tuổi vẫn chưa lập gia đình, không ít người người đã gần 25 năm bám trụ cùng các em học sinh người Mông trên đỉnh núi cao chót vót, hi sinh cả tuổi thanh xuân, tình nguyện cắm chốt nơi sơn cùng thủy tận, chắc chắn không phải vì lương, chẳng phải vì tiền, mà chỉ vì lòng yêu nghề, quý trẻ, hết lòng vì sự nghiệp "Cõng chữ lên non".

SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẦY

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang đứng và ngoài trời
 
 
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên
Cùng đánh răng mõi sáng tại con suối cạnh trường
 
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, xe môtô, ngoài trời và thiên nhiên
 
Cung đường gian nam sau mỗi kỳ nghỉ lễ
Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang ngồi, bàn và trong nhà

 Bọc sách vở cho Học sinh

Vanbavtv Vanbavtv  Nhàn LangTrần Ngọc Quang,Tăng Sơn.


Tác giả: Tăng Xuân Sơn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết